Dân cư
»
Dân số
» Dân tộc
» Tôn giáo
Điều kiện tự nhiên

»
Vị trí địa lư
» Địa h́nh
» Khí hậu
» Nước và Nước khoáng
» Thủy văn và Hải văn
» Hệ động thực vật

 

Tổ chức Hành chính
»
Huyện thị

» Bản đồ

 

Điểm Du lịch
»
Di tích

» Danh thắng

» Đ́nh chùa

Bản đồ hành chính

LỊCH SỬ

Thời tiền sử và sơ sử  » Giai đoạn Bắc thuộc
  » Thời kỳ Phong kiến  »  Giai đoạn 1955 –đến nay

                        
                          Giai đoạn 1883-1955

Từ 1883 - 1945

Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam từ năm 1858. Sau đó chúng lần lượt chiếm các tỉnh Nam Kỳ rồi hai lần tiến công đánh thành Hà Nội. Ngày 12-3-1883, đích thân Henriviere chỉ huy cuộc đánh ra Bắc Kỳ lần thứ 2. Hai tàu chiến tiến vào sâu trong vịnh Hạ Long, đậu trên vùng Cửa Lục rồi đổ quân chiếm đồi cao Băi Cháy. Vùng đất Quảng Ninh bị thực dân chiếm đóng từ đây.
Phong trào cách mạng nhanh chóng lan rộng, toả ra khắp các địa bàn trong tỉnh. Sau khi thành lập Chiến khu Đông Triều Trần Hưng Đạo (ngày 8-6-1945), nhiều tổ chức cách mạng được thành lập. Việc giành chính quyền ở tỉnh lỵ Quảng Yên, Quảng Ninh thắng lợi tạo cơ sở giành chính quyền cấp tỉnh sớm nhất trong vùng. Sau đó du kích quân Đông Triều đă chuyển thành Giải phóng quân tiến về giải phóng Hải Pḥng, Kiến An, Hải Dương, Ḥn Gai, Cẩm Phả và tiến ra giải phóng Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái.

Quảng Ninh dưới chế độ thực dân
Người Pháp đặc biệt chú ư đến nguồn lợi than đá ở Quảng Ninh. Sau khi triều đ́nh nhà Nguyễn kư hiệp ước đầu hàng (hiệp ước Harmand 25-8-1883) và Hiệp ước công nhận quyền bảo hộ (Hiệp ước Paternotre 6-6-1884), Pháp đă lần lượt chiếm đoạt kho tài nguyên này. Ngày 26-8-1888, tại Huế đại diện triều đ́nh phải kư bán vùng mỏ Ḥn Gai cho Pháp trong 100 năm. Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương kư quyết định nhường để thưởng công cho Jean Dupuis (một lái buôn có công do thám mở đường xâm lược) toàn bộ đảo Cái Bầu. Năm 1890, triều đ́nh Huế nhượng bán vùng mỏ Đông Triều. Từ đây, hàng loạt nhượng địa cho tư bản Pháp được Toàn quyền của Pháp kư quyết định.
Cũng từ năm 1888, các công ty than của Pháp lần lượt ra đời. Lớn nhất là công ty của Pháp ở mỏ than Bắc Kỳ - S.F.C.T. (Societe Fracaricdeo Charbonnases du Tonken) độc quyền vùng mỏ Ḥn Gai - Cẩm Phả rộng lớn.
Chính quyền thực dân Pháp và chủ mỏ tuyển hàng vạn phu từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Thanh - Nghệ - Tĩnh. Pháp đưa các thiết bị khai thác, vận chuyển sang. Nhưng việc đào than, xúc than, chuyển than ra đầu đường vẫn sử dụng lao động thủ công. Khổ cực nhất là lao động dưới hầm ḷ, người phu mỏ phải đội thúng than trên đầu. Bọn chủ mỏ quản lí theo lối trung cổ, dùng roi vọt đánh đập và luôn cúp phạt. Người phu mỏ lao động liên tục từ 10 đến 12 giờ mỗi ngày với đồng lương chỉ đủ sống cầm hơi. Tai nạn đổ tầng, sập ḷ, bệnh tật ốm chết thường xuyên. một số mỏ, chúng c̣n trả lương bằng loại tiền riêng để trói chặt cuộc sống phu mỏ. Chưa kể nhà tù và các h́nh thức đầu độc như rượu, thuốc phiện, mê tín, dị đoan... Với hệ thống mật thám, cảnh sát riêng, với những bất công, tàn bạo, vùng mỏ thực sự trở thành một địa ngục trần gian. Trong 67 năm, bọn thực dân và chủ mỏ đă thu lăi lớn từ hơn 30 triệu tấn than chở về Pháp quốc và bán cho các nước khác.
Năm 1928, tổ chức cách mạng Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội - Tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản đă cử nhiều hội viên về vùng mỏ vừa tuyên truyền vận động cách mạng. Phong trào đấu tranh ở đây từ tự phát lẻ tẻ đến có tổ chức, tự giác. Liên tiếp các cuộc băi công, đ́nh công đ̣i quyền lợi nổ ra.
Ngày 17-6-1929, Đông dương Cộng sản Đảng ra đời ở Bắc Kỳ. Các chi bộ Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội, trong đó có hai chi bộ được thành lập sớm nhất ở Cẩm Phả, Cửa Ông cũng nhanh chóng chuyển thành chi bộ thuộc Đông Dương Cộng sản Đảng. Một hoạt động có ảnh hưởng lớn do các chi bộ lănh đạo là tổ chức kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga. Ngày 7-11-1929, cờ đỏ búa liềm tung bay trên pooc-tích số 1 cảng Cửa Ông, giữa phố Cẩm Phả, Cửa Ông, Mạo Khê, Uông Bí...
Ngày 3-2-1930, Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập. Cuối tháng 2-1930, chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam đầu tiên được thành lập ở mỏ Mạo Khê. Tờ báo Than được xuất bản (trước đó chi bộ Cẩm Phả, Cửa Ông cũng có báo Than). Số đảng viên không ngừng tăng, các tổ chức đảng cơ sở không ngừng phát triển và mở rộng
Đi đôi với sự phát triển Đảng là sự ra đời các tổ chức quần chúng trước hết là công hội đỏ. Các cuộc đấu tranh lại nổ ra với tổ chức chặt chẽ hơn, quy mô lớn hơn, tiêu biểu là ngày kỷ niệm quốc tế Lao động đầu tiên ở Việt Nam. Ngày 1-5-1930 cờ đỏ búa liềm tung bay trên núi Bài Thơ làm nức ḷng người dân lao động khiến bọn chủ mỏ khiếp sợ.
Đầu năm 1931, phong trào bị khủng bố dữ dội, hàng loạt đảng viên và quần chúng yêu nước bị bắt và xử tù, nhiều người bị tra tấn đến chết, phong trào có lúc tạm lắng xuống. Thời kỳ mặt trận B́nh Dân những năm 1936-1939, phong trào cách mạng lại bùng lên mạnh mẽ hơn. Giữa năm 1936, nhiều đảng viên được thả từ các nhà tù đă trở lại cơ sở. Một cuộc tổng đ́nh công nổ ra từ ngày 13-11-1936 ở Cẩm Phả rồi nhanh chóng lan sang Ḥn Gai, ảnh hưởng đến tất cả các hầm mỏ nhà máy trong tỉnh. Hơn 3 vạn thợ mỏ đă tham gia cuộc tổng băi công với khẩu hiệu đ̣i tăng lương giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt và một số yêu cầu về đời sống.  
Sau 10 ngày đấu tranh quyết liệt, bọn chủ mỏ chịu khuất phục, chịu chấp nhận thực hiện các yêu sách, công nhân toàn thắng. Tại một số mỏ khác như Cái Bầu, Vàng Danh, Mạo Khê chưa chính thức nổ ra băi công nhưng bọn chủ mỏ đă phải nhượng bộ.
Tháng 9-1939, Đại chiến Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Tháng 9-1940 phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, chiến tranh lan rộng, sản xuất than suy giảm. Dưới hai tầng áp bức Pháp - Nhật, phong trào cách mạng bị đàn áp. Từ cuối năm 1940, một số chi bộ Đảng ở Quảng Yên, Uông Bí được thành lập lại. Năm 1941 lại bị khủng bố, nhưng lúc này Trung ương Đảng sau tổn thất từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đă được củng cố. Mặt trận Việt Minh được thành lập. Căn cứ địa Việt Bắc h́nh thành. Tổ chức Việt Minh được thành lập ở Quảng Yên, Uông Bí, Đông Triều, Móng Cái, Ḥn Gai. Từ giữa năm 1945, trên đất Đông Triều, thanh niên công nhân mỏ Mạo Khê và từ các xă được tập hợp, vũ khí được mua sắm và tự tạo, nhiều đội quân du kích ra đời. Móng Cái, quân Tưởng tràn vào lấy danh nghĩa quân Đồng Minh đánh Nhật kéo theo bọn Việt Quốc, Việt Cách phản động, Huyện bộ Việt Minh ở Móng Cái đă tổ chức biểu t́nh gây thanh thế, sau đó lập đội du kích quân đưa ra đảo Vĩnh Thực luyện tập.  
Ngày 8-6-1945 Du kích quân Đông Triều tuyên bố thành lập Chiến khu Đông Triều Trần Hưng Đạo và trong một ngày ra quân đă hạ bốn đồn binh Nhật ở Chí Linh, Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch. Tiếp đó ngày 2-7-1945 tiến đánh hai đồn ở Uông Bí. Ngày 20-7-1945 chớp thời cơ chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên. Lực lượng vũ trang không ngừng phát triển và thu được nhiều thắng lợi trên các địa bàn.

Từ 1946 - 1955

Chiến trường Quảng Ninh vô cùng ác liệt. miền Đông, Pháp lập ra Xứ Nùng tự trị và hành lang Mán gây rất nhiều khó khăn cho Việt Minh. Việt Minh phải 2 lần "Đông tiến" để gây dựng lại cơ sở. Phần lớn đất đai trong tỉnh dày đặc đồn bốt địch nhưng bộ đội địa phương và dân quân du kích đă đánh hàng ngàn trận và liên tiếp phá tề trừ gian. Chiến dịch biên giới, giải phóng B́nh Liêu năm 1950 và chiến dịch đường 18 năm 1951 đă chọc thủng các hành lang an toàn của địch. Lực lượng vũ trang cách mạng càng đánh càng mạnh và Quảng Yên, Hải Ninh cùng đặc khu Ḥn Gai đă góp công sức to lớn vào chiến thắng chung của dân tộc.
S
au chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kư kết, vùng trung tâm Quảng Ninh là nơi tập kết quân đội Pháp từ 100 đến 300 ngày. Ngày 24 tháng 4 năm 1955, người lính Pháp cuối cùng rút khỏi Quảng Ninh tại bến phà Băi Cháy. Quảng Ninh hoàn toàn giải phóng.  

 

 
 

 

  Bản quyền © Trung tâm Công nghệ thông tin Du lịch & Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh
Liên hệ: Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh
Tel: 84 33 626127; 84 33 845921
Fax: 84 33 845027; 84 33 623459
 Email: tourismdepart@hn.vnn.vn

http://www.halong.com